Home Blog Page 46

50 cách để trở thành một Bartender tốt hơn

0

50+ Ways to Be A Better Bartender

  1. Give everyone a fair shot.
  2. If you haven’t anything nice to say, don’t say it.
  3. Use the BEST premium products and you’ll be the BEST.
  4. Smile! 
  5. Wear a clean shirt everydayBe the solution to the problem,
    not part of the problem.
  6. Don’t drink and drive; don’t let others.
  7. Respect salesmen, you’re one.
  8. Don’t take sides. You’ll make two enemies.
  9. Be NEAT.
  10. Wear a clean shirt everyday.
  11. Don’t cheat or steal.
  12. Serve.
  13. Keep your hands and fingernails clean.
  14. Use Mr., Sir, or Ms., when talking to strangers.
  15. Don’t be a part of a rumor.
  16. Keep your space clean.
  17. Don’t waste.
  18. Be on time.
  19. Keep it cleanHelp others when they’re busy.
  20. Don’t use the easy way. Use the right way.
  21. Don’t give up. Follow your dream.
  22. If you open it, close it.
  23. If you turn it on, turn it off.
  24. If you unlock it, lock it up.
  25. If you value it, take care of it.
  26. If you can’t fix it, call in someone who can.
  27. If you borrow it, return it.
  28. If you break it, admit it.
  29. If you make a mess, clean it up.
  30. If you move it, move it back.
  31. If it belongs to someone else and you want to use it,
    get permission.
  32. If you break it, admit itIf you don’t know how to operate it,
    leave it alone.
  33. If it’s none of your business,
    don’t ask questions.
  34. If it isn’t broken, don’t fix it.
  35. If it will brighten someone’s day–SAY IT!
  36. Be patient with your coworkers.
  37. Never put a glass in the ice bin.
  38. No smoking behind the bar.
  39. Never become better than your customers.
  40. Never touch the rim of the glass.
  41. Create a house cocktail.
  42. You’re a bartender, no one says, “hey mixologist”.
  43. Learn to serve as a professional“Hey bar chef”
  44. “Hey cocktailian”
  45. “Hey Master Mixologist”
  46. Foul language is not and never will be
    a sign of a good bartender.
  47. Don’t cheat with your drinks.
  48. Use a scoop for ice, not hands.
  49. Don’t listen to what doesn’t concern you.
  50. The mission of a bartender is to cheer up,
    not to intoxicate.
  51. Be proud you’re a BARTENDER.


Foley Publishing Corporation sends a special “thank you” to
Santiago Policastro (Pichin) for sharing some of his philosophy.

DOM

0

Brandy, Whiskey và Các loại rượu mùi

0

Trong 8 họ rượu được thế giới công nhận thì Brandy là họ rượu được xếp vào loại đắt tiền nhất. Quốc gia sản xuất Brandy lừng danh thế giới chính là Pháp. Chúng ta sẽ tìm hiểu về Brandy và lý do tại sao Pháp vỗ ngực tự hào là đất nước khai sinh của rượu.

– Brandy là loại rượu mạnh (tất cả rượu mạnh được gọi là spirit) có độ cồn trung bình 40, được sản xuất qua một quy trình phức tạp, tốn kém.

– Rượu được sản xuất từ sự lên men của trái cây, hoa quả, thảo mộc, . . . nhưng phần lớn là từ nho và táo. Thỉnh thoảng chúng ta nghe đến rượu Cognac hay Armagnac, chúng đều là họ rượu Brandy (Cognac và Armagnac chính là Brandy nhưng không phải Brandy nào cũng được gọi là Cognac hay Armagnac).

– Lý giải cho vấn đề trên có thể bắt đầu từ nguyên liệu làm rượu. Miền tây nam nước Pháp có vùng đất tên Cognac (gần Bordeaux) nổi tiếng với một giống nho trắng, nó chỉ cho chất lượng ngon nhất khi trồng tại đây. Rượu được sản xuất từ nho trồng tại vùng này mới được quyền gọi là rượu Cognac. Nhiều người đã thử đem giống này trồng nơi khác, kết quả thu hoạch nho không đủ tiêu chuẩn sản xuất rượu ngon như thế nên dân địa phương cũng chẳng ngại gì giống nho này bị người khác đem đi trồng nơi khác, họ chỉ thêm tự hào mà thôi. Armagnac là 1 vùng lân cận Cognac, trồng 1 giống nho khác tương tự nho trắng ở Cognac nhưng chất lượng rượu vẫn được xếp vào loại hàng đầu thế giới (chỉ sau Cognac). Chính phủ Pháp đã đăng ký tên Cognac và Armagnac như là 1 sỡ hữu độc nhất cho 2 vùng trên. Từ đó, các loại rượu sản xuất từ nguyên liệu không phải của 2 vùng trên, mặc dù cùng công thức sản xuất, chất lượng có cao đến đâu cũng chỉ được ghi trên nhãn là Brandy.

– Nho thu hoạch làm rượu thường được thu hoạch vào tháng 10 hàng năm. Để có chất lượng nho cao nhất, người trồng nho phải cố gắng thực hiện các yêu cầu sau: nụ nho phải nở muộn để trái nho ngon nhất, trái nho phải chín muộn để tính acid cao, các chùm nho phải cách xa để tránh sâu, nấm.

– Tất cả Brandy đều trải qua giai đoạn chưng cất phức tạp (2 lần). Thuật ngữ chuyên ngành rượu hay dùng từ “eaux-de-vie” (nước của cuộc sống) ám chỉ rượu Cognac sau giai đoạn chưng cất kép (lúc này rượu có màu trắng trong suốt, độ cồn xấp xỉ 70, không thể uống). Sau đó, rượu này mới được ủ trong thùng gỗ sồi (oak) trong thời gian quy định ít nhất phải 4 năm. Gỗ sồi chỉ cho chất lượng đủ tiêu chuẩn khi cây sồi được ít nhất 80 năm tuổi. Sau khi đốn xuống, cây sồi được để 2-3 năm mới sử dụng. Thùng gỗ sối làm từ 100% gỗ, tuyệt đối không dùng keo hay hóa chất để kết dính hay hàn kín.

– Sau khi ủ rượu trong thùng gỗ sồi trong thời gian quy định, rượu sẽ dần giảm độ cồn xuống còn xấp xỉ 40 và ngã sang màu vàng óng của hổ phách do thẩm thấu với gỗ sồi.

– Các ký hiệu mà ta thường thấy trên chai rượu Brandy như V.S, V.O, V.S.O.P hay X.O để mô tả chất lượng và giá cả rượu có quy ước sau:
+ V.S (very special): rượu được pha trộn từ khoảng 40 hầm rượu khác nhau, trong đó hầm rượu nhỏ tuổi nhất khoảng 4 năm.
+ V.O (very old) và V.S.O.P (very superior old pale): rượu được pha trộn từ khoảng 60 hầm rượu khác nhau, trong đó hầm rượu nhỏ tuổi nhất khoảng 4-6 năm.
+ X.O (extra old): rượu được pha trộn từ khoảng 100 hầm rượu khác nhau, trong đó hầm rượu nhỏ tuổi nhất khoảng 6 năm trở lên.

– Nút chai rượu Brandy phải được đóng bằng nút bần (một loại gỗ đặc biệt, có cả 1 ngành công nghiệp sản xuất nút bần cho Brandy). Đặc điểm của nút chai này sau khi đóng chai sẽ dãn nở khít chặt miệng chai tuyệt đối không cho không khí thẩm thấu. Lưu ý: chai rượu Brandy khi lưu trữ chỉ nên để đứng, không để nằm ngang vì rượu sẽ bị thấm vào nút bần sẽ bị hỏng mùi.

– Các nhãn hiệu Cognac nổi tiếng: Hennessy, Rémy Martin, Martell, Camus, Courvoisier, Prunier, Otard, . . .
– Các nhãn hiệu Armagnac nổi tiếng: Chabot, Larressingle, Janneau, . . .

– Brandy có thể thể uống nguyên chất trong ly Brandy Snifter (nên tráng nóng để tăng mùi vị), pha với soft drinks như nước suối, soda, coke, tonic, . . . và đá trong ly old fashioned hoặc pha 1 số cocktail
Brandy là tên gọi chung của các loại rượu mạnh được chế biến từ sự chưng cất của rượu vang hoặc từ trái cây nghiền nát rồi ủ lâu trong thùng gỗ một thời gian (ít nhất là hai năm). Sau đó được làm giảm nồng độ rượu bằng cách pha thêm nước cất.

Rượu brandy đặt tên theo gốc tiếng Hà Lan brandewijin (burned-wine, rượu đã cháy) xuất phát từ một thương gia Hà Lan gốc Đức tên là Den Helkenwijk, người chuyên buôn rượu chát từ Pháp sang Hà Lan. Ông đã sáng tạo ra cách chưng cất cách thủy rượu vang chát, hình thành nên một loại rượu mạnh hơn về nồng độ, có thể tích ít hơn và vì vậy, giảm bớt chi phí cho vận chuyển
Rượu brandy được ngâm trong thùng gỗ nhằm cho phép ôxy hoá nhẹ rượu, brandy ngấm màu của gỗ để trở thành màu hổ phách và hấp thụ hương thảo mộc từ gỗ.

PHÂN LOẠI:

Brandy có 3 loại chính:

Brandy nho: Được chế biến từ nước nho lên men, nước nho ép chứ không có thịt hay vỏ quả nho. Loại rượu này thường có thời gian lưu trữ khá dài trong thùng gỗ sồi để lên màu thêm mùi vị và trở nên ngon hơn.
Rượu brandy nho ở Mỹ chủ yếu sản xuất ở Califonia: Christian Brothers, Coronet, E&J, Korbel, và Paul Masson
Armagnac: loại Brandy cao tuổi nhất ở Pháp
Cognac hay cô nhắc
Lourinhã: thịnh hành ở Bồ Đào Nha

Brandy táo: (Loại Grappa của Italia và Marc của Pháp là hai điển hình của loại brandy này) là loại brandy được làm từ thịt quả, vỏ, thân và phần còn lại của quả nho sau khi đã ép lấy nước, do đó có vị gắt nên phải thời gian ủ khá dài. Brandy táo thường có thời gian lưu trữ trong thùng gỗ tối thiểu nên có hương vị nồng đậm và có mùi vị đặc trưng của loại nho được chế biến đã bị mất đi ở brandy ủ lâu năm trong thùng gỗ.

Brandy hoa quả là tên gọi chung cho tất cả các loại brandy lên men từ các loại trái cây nói chung trừ nho. Brandy hoa quả, trừ loại làm từ dâu, thường là làm từ các loại quả dùng để lên men rượu. Dâu không đủ độ ngọt để làm ra vang có đủ nồng độ cồn cần thiết để chưng cất và vì vậy thường được ngâm trong rượu mạnh để chiết lấy vị dâu và hương thơm.

Các ký hiệu
A.C.: Rượu có 2 năm ngâm trong thùng gỗ

Rượu Martell V.S. 3 sao
3 Stars (3 sao, tương đương với V.S.-Very Special): Loại rượu tương đối trẻ tuổi, từ 3 đến 5 năm. Giá rẻ, được tiêu thụ nhiều.
V.S.P. – Very Superior Pale: ít nhất 2 năm tuổi trong thùng gỗ
V.S.O.P. (Very Special Old Pale): Tuổi từ 7 đến 10 năm. Màu vàng nhạt. Đắt vừa phải nên khá phổ dụng trong cả giới bình dân và quý tộc.

Napoléon: Tuổi trên 10 năm. Napoléon không liên quan gì đến hoàng đế Napoléon của Pháp, mà chỉ mang nghĩa là “Hoàng đế của các lò rượu”.
Cordon Blue, Anniversary, Reserve Prince Hubert: tương tự Napoléon.
X.O. (Extra Old): Khá đắt, tuổi thường trên 20 năm, chất lượng cao.
Extra, Extra Veille hay Grande Reserve: loại đặc biệt hiếm quý. Tuổi từ 45 năm trở lên.

Uýt ki (tiếng Anh, tiếng Pháp:
Whisky, tại Ireland và phần lớn nước Mỹ là Whiskey) là một loại đồ uống có chứa cồn được sản xuất từ ngũ cốc bằng cách lên men và chưng cất.

Từ Whisky được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1736 xuất phát từ usisge beatha trong tiếng Gaelic tại Scotland hay từ uisce beatha trong tiếng Gaelic tại Ireland và có nghĩa là “nước của cuộc sống” (uisge/uisce: “nước”, beatha: “sống”). Khái niệm này đã phổ biến ngay từ thế kỷ 16 / thế kỷ 17 nhưng thời đấy người ta hiểu đấy không chỉ riêng là Whisky mà còn là những loại rượu chưng cất khác có thêm đồ gia vị.

Whisky được bán trên thị trường dưới nhiều tên khác nhau, trong đó một phần là tên loại ngũ cốc được dùng để sản xuất Whisky:
Malt là loại Whisky được làm từ mạch nha.
Grain là tên loại Whisky được sản xuất từ lúa mạch mà thông thường là sử dụng thiết bị chưng cất cột được gọi là “kiểu Coffey”.
Rye là tên gọi loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ lúa mạch đen, ít nhất là 51%.
Bourbon là tên gọi loại Whisky chủ yếu được sản xuất từ bắp (ít nhất là 51%) và được chưng cất với tối đa là 81 phần trăm thể tích rượu, đổ vào thùng chứa với tối đa là 63 phần trăm thể tích rượu.

Phân loại theo quy trình sản xuất
Mặt khác tên gọi một phần cũng thể hiện rõ quy trình sản xuất của từng loại Whisky:
Single là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Scotland: Single-Malt-Whisky).
Straight cũng là loại Whisky có nguồn gốc chỉ từ một lò nấu rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whiskey của Mỹ)
Blend là một loại Whisky đã được pha trộn. Trong lúc sản xuất (blending) nhiều loại Whisky khác nhau từ nhiều lò nấu rượu khác nhau được pha vào với nhau. Trong một số sản phẩm có đến 70 loại Whisky khác nhau.

Pot Still là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng loại bình nấu cổ điển (thường dùng cho một số loại Whiskey của Ireland).
Pure Pot Still là loại Whisky được sản xuất chỉ dùng mạch nha trong các bình nấu rượu cổ điển (thường dùng cho một số loại Whiskey riêng lẻ của Ireland).

Trước năm 2005 các tên Vatted (pha trộn Malt-Whisky từ nhiều lò nấu rượu khác nhau) hay Pure (tên không thống nhất có nghĩa là Blend hay Vatted) vẫn còn thông dụng.

Các tên khác
cask strength (độ mạnh thùng): Sau khi được trữ trong thùng người ta không cho thêm nước vào Whisky nữa để đạt đến một nồng độ rượu nhất định. Nồng độ rượu của những loại Whisky này khác nhau vì thay đổi tùy theo thời gian trữ, điều kiện môi trường, chất lượng của thùng chứa và nồng độ rượu của phần cất nguyên thủy.
vintage (năm sản xuất): Loại Whisky được sử dụng có nguồn gốc từ năm được ghi chú.

single cask (thùng riêng lẻ): Loại Whisky này có nguồn gốc từ một thùng rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Scotland).
single barel (thùng riêng lẻ): Loại Whisky này có nguồn gốc từ một thùng rượu riêng lẻ (thường dùng cho Whisky của Mỹ).

Các tên gọi Scotch, Irish hay American tất nhiên là thể hiện xuất xứ của sản phẩm. Một số tên gọi xuất xứ này được luật pháp bảo vệ và gắn liền với một số điều kiện nhất định (thí dụ như tuổi tối thiểu).

Trong 8 nhóm rượu, nhóm rượu mùi (liqueur/liquor – Anh, cordial – Mỹ) là nhóm phong phú nhất về chủng loại. Nếu phải chia từng loại theo nguyên liệu sản xuất rượu thì không thể nào kể hết loại rượu mùi trên thế giới khi các nhà sản xuất hàng đầu thế giới liên tục công bố sản phẩm rượu mùi mới của họ.

Đặc tính của rượu mùi đa dạng về màu sắc, hương vị và nguyên liệu (hoa, trái cây, thảo mộc, vỏ cây, rễ cây, hạt, . . .),có độ cồn trung bình 25-55. Thường thì không bao giờ chúng ta uống rượu mùi nguyên chất vì mùi rất đậm đặc. Trường hợp Bailey’s Irish Cream (thường được gọi tắt là Bailey’s) là 1 trong số rất ít rượu mùi được thưởng thức riêng lẻ.

Nếu chúng ta thưởng thức rượu mạnh đơn thuần là uống nguyên chất hay pha với chút soft drinks hoặc uống với đá, có lẽ chúng ta chưa thấy hết sự lý thú của thức uống. Chính rượu mùi là thành phần làm cho thế giới thức uống trở nên đa dạng, mới mẻ và hấp dẫn tuyệt vời cho chúng ta.

Trong phạm vi giới thiệu cơ bản về rượu mùi, xin trao đổi với các bạn một số rượu mùi phổ biến dùng trong pha chế cocktail và demi-cocktail.

AMARETTO
Rượu mùi hạnh nhân (almond) và vanilla nổi tiếng do Italia sản xuất đầu tiên trên thế giới.

BAILEY’S IRISH CREAM
Rượu mùi kết hợp giữa whisky, cream, dừa, chocolate, coffee, . . . lừng danh của Ireland chuyên chế biến thức uống cho nữ giới.

MIDORI
Rượu mùi dưa (nhiều loại dưa) đặc sắc của Nhật có màu xanh lá nhạt rất quyến rũ.

SAMBUCA
Rượu mùi từ hoa sambucus nổi tiếng của Italia, trong suốt, không màu và thơm.

STRAWBERRY LIQUOR
Rượu mùi dâu tây màu đỏ rất đẹp và thơm

ADVOCAAT
Rượu mùi kết hợp giữa Brandy và lòng đỏ trứng gà (eggfolks), cream và đường. Tương tự như Bailey’s, Advocaat thường dùng pha chế thức uống cho nữ như cocktail mang tên Snow Ball.

CURACAO
Rượu mùi sản xuất từ Cognac kết hợp hương thơm của vỏ cam. Loại curacao có 3 màu dùng cho chế biến nhiều loại cocktail có hiệu ứng màu sắc: blue curacao, orange curacao và white curacao (còn gọi là triple sec).

MANGO LIQUOR
Rượu mùi xoài có màu vàng tươi bắt mắt.

MARASCHINO
Rượu mùi quả anh đào, không màu, trong suốt, xuất xứ từ Italia.

COFFEE LIQUOR
Rượu mùi cà phê. Tên này dùng chung cho nhóm rượu từ cà phê, chỉ có 2 thương hiệu lừng danh thế giới có tên riêng: Kahlúa (Mexico) và Tia Maria (Jamaica).

APRICOT BRANDY
Rượu mùi sản xuất từ Brandy và quả mơ, có màu vàng cam rất hấp dẫn.

MALIBU
Rượu mùi dừa kết hợp Rum trắng xuất xứ từ Nam Mỹ.

CREME DE CACAO
Rượu mùi chocolate đặc sắc kết hợp vanilla, rất nổi tiếng với cocktail mang tên Grasshoper và Brandy Alexandre.

BENEDICTINE
Rượu mùi thảo mộc kết hợp nhiều loại vỏ cây, rễ cây, độc quyền của Pháp. Cho đến hôm nay, công thức chính xác sản xuất rượu mùi này vẫn trong vòng bí mật. Tương truyền, khi xuất hiện, Benedictine là loại rượu dùng để dâng lễ trong nhà thờ nên chai Benedictine luôn có từ “D.O.M” (Deo Optimo Maximo – dành cho Chúa điều tốt đẹp nhất vĩ đại nhất).

CREME DE CASSIS
Rượu mùi quả dâu rừng đen (black currant).

DRAMBUIE
Rượu mùi rất thơm kết hợp giữa whisky của Scotland, mật cây và vài loại thảo mộc.

GRAND MARNIER
Rượu mùi độc quyền của Pháp do kết hợp giữa Cognac và vỏ cam. Điểm đặc biệt của Brand Marnier là chai hình hồ lô.

PEACH LIQUOR
Rượu mùi quả đào với món cocktail nổi tiếng Sex On The Beach.

PARFAIT AMOUR
Rượu mùi đặc sắc màu tím violet sản xuất từ vỏ cam, vỏ chanh, vanilla và nhiều loại thảo mộc. Parfait Amour đẹp và thơm ngay như tên gọi của nó: Tình Yêu Tuyệt Vời.

CHERRY BRANDY
Rượu mùi sản xuất từ Brandy và quả anh đào, có màu đỏ gợi cảm.

CREAM DE BANANE
Rượu mùi màu vàng nhạt có mùi thơm của chuối.

CAMPARI
Rượu mùi màu đỏ rực rỡ, độc quyền của Italia, có vị nhẫn và mùi quinine (quinine là 1 chất dùng trong chế tạo thuồc chống sốt rét).

DOOLEY’S
Rượu mùi độc quyền của Đức, sản xuất từ Vodka, cream và quả toffee (loại quả dùng sản xuất kẹo toffee nổi tiếng).

GALLIANO
Rượu mùi sản xuất từ hạt ani lừng danh của vùng Milan (Italia), có màu vàng nhạt và mùi thơm rất quyến rũ.

PASSION FRUIT LIQUOR
Rượu mùi sản xuất từ chanh dây (hay còn gọi là quả lạc tiên).

CREME DE MENTHE
Rượu mùi chưng cất từ lá bạc hà. Loại rượu mùi này có 2 màu đặc trưng: trắng và xanh.

COINTREAU
Rượu mùi độc quyền của Pháp, sản xuất từ vỏ cam. Đặc trưng hình dáng chai rượu là hình vuông.

* Các nhà sản xuất rượu mùi lừng danh thế giới: Marie Brizard, Cusenier (Pháp), Bols, De Kuyper (Hà Lan).

B-52 (B52 hay Bifi) là tên gọi của một loại cocktail ngắn nhiều tầng bao gồm một phần rượu hương cà phê, một phần rượu Baileys Irish Cream và một phần rượu hương cam Le Grand Marnier. Khi được pha chế một cách thích hợp và chính xác thì ly rượu cocktail này sẽ có ba tầng ba màu rõ ràng. Sự chia tầng này do mật độ rượu khác nhau của ba loại rượu được dùng.

Thức uống có cồn

0

Bài này viết về các loại thức uống có chứa cồn (êtanol)
Thức uống có cồn là các hợp chất gồm nướccồn êtanol và các hợp chất khác có thể tiêu hoá được.
Phân loại
Thường các loại thức uống có chứa cồn được chia theo nồng độ cồn có bên trong:

  • Kefia (kefir): sữa lên men, có nồng độ nhiều nhất là 3%
  • Bia: 1 – 12%, thường ở vào khoảng 5%
  • Rượu vang (vin): 7 – 14% thường vào khoảng 12%
  • Rượu mùi (en:Liqueur): khoảng 15 – 75%, thông thường dưới 30%
  • Rượu mạnh: thường vào khoảng 30 – 55%

Chi tiết hơn, rượu mạnh được phân loại theo nguyên liệu sản xuất và theo năm:

  • Rượu nho
  • Rượu ngũ cốc
  • Rượu hoa quả

Lịch sử
Các loại thức uống có chứa cồn lên men đã được biết đến từ thời tiền sử. Người Ai Cập và người Sumer là những người đầu tiên sản xuấtbia và sau đó là rượu vang dùng các loại men hoang dã. Họ cũng là những người đầu tiên dùng rượu trong y học. Các kết quả khảo cổ học mới đây đã củng cố cho giả thuyết rằng người Trung Hoa đã sản xuất rượu từ 5000 năm trước Công nguyên.
Rượu vang đã được uống từ thời Hy Lạp cổ điển trong các bữa ăn sáng và tiệc rượu ban đêm. Trong thế kỷ 1 TCN rượu vang cũng được người dân La Mã dùng trong các bữa ăn. Tuy nhiên người Hy Lạp và cả người La Mã đều pha loãng rượu vang với nước.
Trong khoảng từ thế kỷ 8 – 9 các nhà giả kim thuật đạo Hồi đã chưng cất rượu mạnh từ rượu vang. Rượu được dùng phổ biến trong cuộc sống hằng ngày cũng như trong y học thời đó. Rượu mạnh bắt đầu gia nhập vào châu Âu khoảng giữa thế kỷ 12 qua các nhà giả kim thuật và từ giữa thế kỷ 14 lượng rượu dùng bắt đầu tăng vọt.
Việt Nam
Từ xa xưa, người Việt đã biết nấu rượu.
Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: “Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên gọi là Mỵ Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mỵ Nương, Thục Vương căm giận, dặn lại con cháu phải diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đời cháu Thục Vương là Thục Phán mấy lần đem quân sang đánh nước Văn Lang. Nhưng Vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói:Ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo sang đánh nước Văn Lang, vua Hùng Vương còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, Vua Hùng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất.”[1]
Cồn trong cơ thể con người
[​IMG] Những thông tin chỉ mang tính chất tham khảo và không thể thay thế ý kiến chuyên môn. Trước khi sử dụng những thông tin này, đề nghị liên hệ và nhận sự tư vấn của các bác sĩ chuyên môn.
Hấp thụ và phân hủy trong cơ thể
Cồn được hấp thụ trên toàn tuyến của bộ phận tiêu hóa, bắt đầu ngay từ màng niêm mạc trong miệng. Cồn được hấp thụ ở đấy đi thẳng vào máu và vì thế được phân tán ra trên toàn cơ thể. Cồn được hấp thụ ở ruột đi cùng với máu đến gan và được phân hủy một phần ở đó. Khả năng tiếp nhận cồn tăng lên nhờ vào các yếu tố làm gia tăng việc lưu thông máu thí dụ như nhiệt (Irish coffee), đường (rượu mùi) hay điôxít cacbon (hơi ga trong sâm banh). Ngược lại, mỡ làm cho cơ thể tiếp nhận cồn chậm lại. Việc này không làm giảm việc hấp thụ cồn mà chỉ kéo dài thời gian ra. Trong gan cồn được enzim phân hóa thành êtanal (CH3-CHO), êtanal tiếp tục bị ôxi hóathành axít axêtic. Axít axêtic được các tế bào trong toàn cơ thể phân hủy thành năng lượng và điôxít cacbon CO2. Sản phẩm trung gian êtanal chính là thủ phạm của các cơn nhức đầu, hậu quả của việc uống nhiều rượu. Đường ngăn cản việc phân hủy cồn trong cơ thể, vì vậy mà tác động nhức đầu ở các loại rượu có đường rất cao, nhất là ở rượu mùi và một số loại sâm banh.
Tốc độ phân hủy cồn không thay đổi trong giới hạn nhất định. Ở phần đông người châu Âu là khoảng 1 g cồn trên 10 kg cân nặng trong một giờ. Tốc độ phân hủy cồn không tăng lên vì hay uống rượu. Hiệu ứng quen với cồn thường được nhìn thấy ở những người nghiện rượu không do phân hủy cồn nhanh mà là do hệ thống thần kinh đã quen với lượng chất độc cao hơn.
Biểu hiện của cơ thể do nồng độ cồn trong máu
Sau khi uống rượu, cơ thể có những phản ứng qua nhiều giai đoạn tương ứng với lượng cồn trong máu (blood alcohol concentration – BAC)

  1. Hưng phấn – BAC: 0,03-0,12%
    • tự tin hơn, liều lĩnh hơn
    • khả năng tập trung giảm, thời gian chú ý rút ngắn
    • mặt có thể đỏ ửng
    • giảm khả năng phán đoán, nhận xét, thường nghĩ gì nói đó, thiếu suy xét
    • gặp khó khăn trong trong các cử động khéo léo như viết, ký tên…
  2. Kích động – BAC: 0,09-0,25%
    • khó nhận thức hay ghi nhớ vấn đề
    • phản ứng chậm
    • dễ mất thăng bằng
    • giảm sút các khả năng cảm giác như: nhìn mọi vật đều mờ ảo, nghe, nếm kém…
  3. Lúng túng – BAC: 0,18-0,30%
    • có thể không biết mình là ai, đang làm gì
    • hoa mắt, chóng mặt, đi đứng lảo đảo
    • có những cảm xúc cực đoan: rất hung hăng hoặc rất nhút nhát, có khi rất trìu mến…
    • cảm thấy buồn ngủ
    • lời nói không mạch lạc, câu chữ líu nhíu, giọng nói lè nhè
    • động tác rời rạc, kết hợp kém, chẳng hạn như chụp một vât được ném tới một cách rất khó khăn
    • khó cảm thấy đau đơn hơn so với người bình thường
  4. Sững sờ – BAC: 0,25-0,4%
    • hầu như không thể di chuyển, đi, đứng hay trả lời kích thích nói chung
    • lúc tỉnh, lúc mê
    • có khi ói mửa
  5. Bất tỉnh – BAC: 0,35-0,50%
    • Không còn ý thức
    • Phản ứng của cơ thể giảm mạnh, đồng tử hầu như không phản ứng với ánh sáng
    • Hơi thở chậm và yếu
    • Nhịp tim chậm dần
    • Có cảm giác lạnh (nhiệt độ cơ thể giảm xuống dưới thân nhiệt bình thường)
  6. Tử vong – BAC: > 0,50%

Tác động tâm lý trực tiếp
Cồn làm giãn các mạch máu, đặc biệt là các mạch máu bên ngoài. Từ đó mà người ta có cảm giác ấm khi uống các loại thức uống có cồn. Khi đó việc điều chỉnh nhiệt lượng tự nhiên của cơ thể không còn hiệu lực nữa. Đồng thời cồn lại có tác dụng gây mê vì thế mà giá lạnh không còn cảm nhận được. Do đó uống cồn trong mùa đông có thể dẩn đến lạnh cóng cho đến chết.
Cồn kết hợp cùng với các thuốc uống và các loại chất gây nghiện khác cũng gây hại mạnh hơn và nhanh hơn là chỉ uống rượu đơn thuần.
Tác động đến bộ não và các tác hại khác
Ngay khi chỉ uống một lượng vừa phải (0,2 phần ngàn (0,2 ‰) cồn trong máu, tương đương với 0,3 l bia hoặc 100 ml rượu vang), tùy theo cân nặng và cấu tạo của cơ thể, cồn đã có tác động đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là lên não: góc nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi. Các nhà nghiên cứu của Đại học Stockholm đã tìm thấy rằng uống 50 g cồn hằng ngày sẽ để lại tác hại vĩnh viễn. Ước lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi uống một ly bia. Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi có thể lên đến 10.000.000.
Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con. Cồn làm giảm tính tự kiềm chế và vì thế tăng hưng phấn tình dục. Cồn thuộc vào các chất có tác dụng độc hại đến tinh hoàn và tinh trùng. Theo các nghiên cứu mới đây của giáo sư E. Abel (Mỹ), nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sẩy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra. Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật về trí tuệ.
Tác động lớn nhất của các thức uống có cồn là các tác động lên hệ thần kinh. Với khối lượng từ trên 250 đến 500 ml thức uống có cồn, tùy theo tỷ lệ độ cồn có trong thức uống, có thể gây các trạng thái như sau:

  • Mức độ nhẹ (dưới 20% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng và trạng thái cơ thể): Chất cồn trọng thức uống có thể gây trạng thái bay bổng. Khi đó, người có trạng thái này không thể xác định được nhu cầu của chính mình, không thể biết mình cần gì và không cần gì. Thông thường, người ta vẫn gọi đây là trạng thái “ngà ngà say”.
  • Mức độ trung bình (từ 20% đến dưới 45% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng và trạng thái cơ thể): Chất cồn tác động đến các vùng sâu của hệ thần kinh, gây trạng thái trì trệ ở toàn bộ các thùy quan trọng điều khiển các giác quan của não. Ở trạng thái “ngất ngây” này, con người mất khả năng điều khiển lý trí và tình cảm; chỉ còn lại khả năng tự vận động theo bản năng. Đây là trạng thái “say”.
  • Mức độ nặng (trên 45% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng và trạng thái cơ thể): Cơ thể hoàn toàn mất điều khiển tại tất cả các tuyến thần kinh ngoại biên, mất cảm giác không gian và thời gian, mất ý thức; thậm chí rơi vào hôn mê. Đây là trạng thái “quá say” khi uống rượu.

Các tác dụng tốt có thể có cho sức khỏe
Người ta vẫn còn tranh luận gay gắt về việc các loại thức uống có cồn có tác dụng tốt đến sức khỏe. Nhiều tác dụng tốt trước mắt bị triệt tiêu đi vì các tác hại khác, như nguy cơ bị ung thư tăng lên khi uống rượu đều đặn mặc dầu chỉ ở lượng nhỏ, điều này đã được khẳng định bởi những nghiên cứu khoa học.
Xuất phát từ một số nghiên cứu có thể nói là dùng một lượng rất ít một số thức uống có cồn nhất định, đặc biệt là rượu vang đỏ (vào khoảng 1-2 ly một ngày), qua một thời gian dài có thể bảo vệ chống lại bệnh về động mạch vành của tim. Ngoài ra uống cho đến 20-40g ở phái nam hoặc đến 10-20 g ở phái nữ cũng có thể làm tăng tuổi thọ.
Ở trên mức độ này các tác dụng tốt sẽ bị quay ngược lại. Nguyên nhân của các tác động này không phải chính từ cồn mà là từ những chất hòa tan theo có trong rượu vang và bia vì cồn là một dung môi tốt (theo lý thuyết dung môi). Vì thế mà rượu mạnh như rượu đế và đa số các rượu mùi không có các tác dụng tương tự.
Nồng độ cồn trong cơ thể
Nồng độ của cồn trong máu được tính bằng miligam cồn có trong một gam máu (mg/g). Nồng độ của cồn trong hơi thở được tính bằng milligam cồn có trong một lít hơi thở. Tính chuyển đổi từ nồng độ cồn trong hơi thở sang nồng độ trong máu không chính xác hoàn toàn vì tỉ số thay đổi theo thời gian.
Các hạn định pháp luật
Trong thương mại và tiêu dùng
Ở một số nước, đặc biệt là các nước theo đạo Hồi, rượu bị cấm rất nghiêm ngặt như ma túy. Một số loại thức uống có cồn như absinthcũng đã bị cấm ở nhiều nước châu Âu vì tiềm năng nguy hiểm cao. Ở Mỹ vẫn còn có một số nơi cấm rượu hoàn toàn thí dụ như Weston của MassachusettsMỹ.
Ở Đức và Thụy Sĩ người ta chỉ được phép bán các thức uống có cồn cho những người trên 16 tuổi. Đối với những thức uống có cồn mạnh thậm chí phải trên 18 tuổi.
Ở Áo việc bảo vệ thanh thiếu niên thuộc về quyền hạn của các tiểu bang. Ở ViênNiederösterreich và Burgenland chỉ được phép uống rượu khi trên 16 tuổi. Ở những tiểu bang khác chỉ được phép uống các loại thức uống có lượng cồn 14% khi trên 16 tuổi, các loại có lượng cồn nhiều hơn chỉ được phép uống khi đủ 18 tuổi. Ở nhiều nước khác, đặc biệt là ở Mỹ, có nhiều qui định áp dụng độ tuổi ít nhất phải là 21 tuổi.
Trong giao thông
Vì rượu ảnh hưởng đến khả năng lái xe nên nhiều nước chỉ cho phép có một lượng cồn tối đa trong máu hay trong hơi thở:

  • 0,1‰ cho những người lái xe tải và xe buýt
  • 0,5 ‰ cho những ngườI lái xe hơi và xe máy hai bánh
  • Ở Đức: 0,5 ‰ trong máu hoặc 0,25 mg/l trong hơi thở. Trong trường hợp lái xe khác thường hoặc xảy ra tai nạn thì ngay từ nồng độ 0,3 ‰ đã có thể bị tội.
  • Ở Thụy Sĩ: 0,5 ‰.
  • Ở Việt Nam: 50 mg/100ml máu hoặc 25 mg/lít khí thở.

Các nước khác như HungaryCroatiaBulgaria không cho phép có cồn trong người khi lái xe (0,0 ‰).

Rượu (hoá học)

0

Bài này viết về rượu nhìn theo phương diện hóa học như là một nhóm chất hữu cơ. 
[​IMG]

Nhóm chức Hydroxyl (-OH) trong phân tử ancol.
Rượu, còn gọi là ancol để phân biệt với êtanol, trong hóa học là một hợp chất hữu cơ chứa nhóm –OH gắn vào một nguyên tử cácbonmà nó đến lượt mình lại gắn với một nguyên tử hiđrô hay các bon khác. Trong đời sống thông thường, từ ancol được hiểu như là nhữngđồ uống có chứa cồn, (cồn (êtanol) hay ancol êtylíc) (C2H5OH).
Cấu trúc
[​IMG]

C2H5OH
Nhóm chức năng của ancol là nhóm hyđrôxil -OH gắn với cácbon lai sp³. Còn gọi là nhóm chức ancol.
Phân loại
Theo cấu trúc
Có các loại ancol mạch thẳng và ancol mạch nhánh, vòng
Theo liên kết cácbon
Có các loại ancol no và ancol không no
Ví dụ: CH3-CH2-OH là ancol no và CH2=CH-CH2-OH là ancol không no.
Theo chức ancol
Có ancol đơn chức và ancol đa chức
Ví dụ: CH3-CH2-OH (êtanol) là ancol một lần ancol còn OH-CH2-CH2-OH (êtilen glycol) là ancol hai lần ancol.
Lưu ý là một số tài liệu cho rằng phenol C6H5OH là một dạng ancol, tuy nhiên phênol có một số tính chất hóa học khác hẳn tính chất hóa học chung của ancol và một số nhà khoa học đã xếp pheenol và các dãy đồng đẳng của nó vào nhóm phenol do các chất này thể hiện tính axít rõ rệt. Ví dụ phenol có phản ứng với chất bazơ như NaOH còn ancol thì không có phản ứng như thế.
Tính chất vật lý và hóa học
Nhóm hiđrôxyl làm cho phân tử ancol phân cực. Nhóm này có thể tạo ra những liên kết hiđrô với nhau hoặc với chất khác. Hai xu hướng hòa tan đối chọi nhau trong các ancol là: xu hướng của nhóm -OH phân cực tăng tính hòa tan trong nước và xu hướng của chuỗi cácbon ngăn cản điều này. Vì vậy, mêtanol, êtanol và prôpanol dễ hòa tan trong nước vì nhóm hiđrôxyl chiếm ưu thế. Butanol hòa tan vừa phải trong nước do sự cân bằng của hai xu hướng. Pentanol và các butanol mạch nhánh hầu như không hòa tan trong nước do sự thắng thế của chuỗi cácbon. Vì lực liên kết hóa học cao trong liên kết của ancol nên chúng có nhiệt độ bốc cháy cao. Vì liên kết hiđrô, ancol có nhiệt độ sôi cao hơn so với hiđrôcácbon và ête tương ứng. Mọi ancol đơn giản đều hòa tan trong các dung môi hữu cơ.
ancol còn được coi là những dung môi. Chúng có thể mất prôton H+ trong nhóm hiđrôxyl và vì vậy chúng có tính axít rất yếu: yếu hơn nước (ngoại trừ mêtanol), nhưng mạnh hơn amôniắc (NH4OH hay NH3) hay axêtylen (C2H2).
Một phản ứng hóa học quan trọng của ancol là phản ứng thế nuclêôphin (nucleophilic substitution), trong đó một nhóm nuclêôphin liên kết với nguyên tử cácbon được thay thế bởi một nhóm khác.
Ví dụ: CH3-Br + OH- -> CH3-OH + Br- (trong môi trường kiềm)
Đây là một trong các phương pháp tổng hợp ancol. Hay:
CH3-OH + Br- -> CH3-Br + OH- (trong môi trường axít)
ancol bản thân nó là những chất nuclêôphin, vì vậy chúng có thể phản ứng với nhau trong một số điều kiện nhất định về nhiệt độ, áp suất, môi trường v.v để tạo thành ête và nước. Chúng cũng có thể phản ứng với các axít hydroxy (hay axít halôgen) để sản xuất hợp chất este, trong đó este của các axít hữu cơ là quan trọng nhất. Với nhiệt độ cao và môi trường axít (ví dụ H2SO4), ancol có thể mất nước để tạo thành các alken. Ngược lại, việc thêm nước vào alken với xúc tác axít thì tạo thành ancol nhưng ít được sử dụng để tổng hợp ancol do tạo thành một hỗn hợp. Một số công nghệ kỹ thuật khác để chuyển alken thành ancol có độ tin cậy cao hơn.
Độc tính
Etanol
Các hình thức đồ uống chứa cồn được sử dụng từ rất lâu trong lịch sử loài người vì nhiều nguyên nhân như hội hè, ăn kiêng, y tế, tôn giáo v.v. Việc sử dụng một lượng vừa phải êtanol thì không có hại hoặc có thể có lợi cho cơ thể nhưng một lượng lớn ancol có thể dẫn đến tình trạng say ancol hay ngộ độc ancol cấp tính và các tình trạng nguy hiểm cho sức khỏe như: nôn ọe, khó thở do thiếu ôxi, lạnh, đột tử hoặc tình trạng nghiện ancol đẫn đến tổn thương gan, não nếu sử dụng thường xuyên.
Các loại ancol khác độc hơn êtanol rất nhiều, một phần vì chúng tốn nhiều thời gian hơn để phân hủy cũng như trong quá trình phân hủy chúng tạo ra nhiều chất độc cho cơ thể. Mêtanol (ancol gỗ) được ôxi hóa bởi các enzim khử hiđrô trong gan tạo ra phoócmanđêhit (phoóc môn) có thể gây mù hoặc tử vong.
Uống nhiều ancol rất có hại với sức khoẻ, người nghiện ancol có thể mắc bệnh suy sinh dưỡng, giảm thị lực…
Metanol
Metanol
 rất độc, chỉ một lượng nhỏ xâm nhập vào cơ thể cũng có thể gây mù lòa, lượng lớn hơn có thể gây tử vong. Một điều thú vị là để ngăn chặn ngộ độc do dùng nhầm mêtanol thì người ta cho người bị ngộ độc dùng êtanol. Êtanol sẽ liên kết với các enzim khử hiđrô và ngăn không cho mêtanol liên kết với các enzim này
Sử dụng
Ancol có công dụng trong việc sản xuất đồ uống (êtanol). Lưu ý là phần lớn các loại ancol không thể sử dụng như đồ uống vì độc tính (toxicity) của nó hay làm nguồn nhiên liệu (mêtanol) hoặc dung môi hữu cơ cũng như nguyên liệu cho các sản phẩm khác trong công nghiệp (nước hoaxà phòng v.v).
Metanol chủ yếu được dùng để sản xuất Andehit Fomic nguyên liệu cho công nghiệp chất dẻo.
Etanol dùng để điều chế một số hợp chất hữu cơ như axit axetic, dietyl ete, etyl axetat …Do có khả năng hòa tan tốt một số hợp chất hữu cơ nên Etanol được dùng để pha vecni, dược phẩm, nước hoa… Trong đời sống hàng ngày Etanol được dùng để pha chế các loại đồ uống với độ ancol khác nhau.
Sản xuất
Phần lớn các loại ancol được sản xuất bằng phương pháp hóa học từ các chất hữu cơ sẵn có trong tự nhiên như dầu mỏhơi đốt hoặcthan. Trong công nghiệp sản xuất đồ uống người ta sử dụng phương pháp khác: lên men hoa quả hoặc ngũ cốc để tạo ra đồ uống có chứa cồn (êtanol). Ngoài ra, trong phòng thí nghiệm, nếu chỉ cần một lượng nhỏ, ta có nhiều cách để tạo như:
Các phương pháp chung cho ancol no đơn chức

  • Hidrat hóa anken (cộng nước vào anken): Đun nóng anken với nước và chất xúc tác axit H2SO4, HCl, HBr, HClO4… Phản ứng theo cơ chế electrophin theo quy tắc Markovnikov (quy tắc Macconhicop).

CH2=CH2 + H2O → CH3-CH2OH (Xúc tác H+)

  • Thủy phân dẫn xuất halogen: Đun nóng halogen trong dung dịch kiềm.

C2H5Br + NaOH → C2H5OH + NaBr

  • Đi từ andehit và xeton: Cộng hydro khi có xúc tác kim loại như Ni, Pt… cũng tạo thành ancol bậc I.

CH3CHO + H2 → CH3-CH2OH (Có xúc tác)
Một số phương pháp riêng

  • Lên men tạo etanol từ tinh bột hoặc xenlulozo

(C6H10O5)n + nH2O → nC6H12O6
C6H12O6 → 2C2H5OH + 2CO2

  • Tạo metanol: CO + 2H2 → CH3OH (300-400 °C và 250-300 at)
    hoặc dùng: 2 CH4 + O2 → 2 CH3OH (200 °C, 100 at)
  • Thủy phân dầu mỡ động vật tạo glixerin.

Cách đặt tên
Hệ thống hóa tên gọi
Tên chung cho các loại ancol thường được lấy theo tên của ankyl và thêm từ ancol vào trước cộng với hậu tố íc vào sau. Ví dụ ancol mêtylíc và ancol êtylíc. Đối với các loại ancol phức tạp, tên gọi chung phụ thuộc vào vị trí của nhóm chức ancol trong mạch cácbon mà gọi là ancol bậc nhất, bậc hai hay bậc ba.
Trong hệ thống tên gọi của IUPAC, thì thêm hậu tố ol vào tên của ankan. Ví dụ mêtan –> mêtanol. Trong trường hợp cần thiết thì vị trí của nhóm hiđrôxyl được thêm vào trước hoặc sau tên gọi. Ví dụ 1-prôpanol hay prôpanol-1. Một cách đặt tên khác là thêm tiền tố hiđrôxy vào tên của ankan: 1-hiđrôxyprôpan, 2-hiđrôxyprôpan.
ancol bậc ba thì thêm tiền tố 3 trước tên của ankyl + íc.
Ví dụ: (CH3)3COH là ancol 3-butylíc, hay 2-mêtyl 2-prôpanol theo quy tắc của IUPAC, chỉ ra rằng cả hai nhóm mêtyl và nhóm hiđrôxyl cùng gắn với nguyên tử ở giữa (thứ hai) của chuỗi prôpan.
ancol với hai nhóm chức hiđrôxyl được gọi chung là “glycol”, ví dụ HO-CH2CH2-OH là êtylen glycol. Tên gọi của nó theo IUPAC là 1,2-êtanđiol, “điol” chỉ rằng có hai nhóm hiđrôxyl, và 1,2 chỉ vị trí liên kết của chúng. Các glycol tương tự (với cả hai nhóm hiđrôxyl liên kết với một nguyên tử cácbon), như 1,1-êtanđiol, nói chung là không ổn định. Đối với ancol có ba hoặc bốn nhóm chức ancol, sử dụng hậu tố “triol” and “tetraol”.
Công thức hóa học Tên IUPAC Tên thông thường (tiếng Anh) 
Monohydric alcohols (đơn chức)
CH3OH Methanol Wood alcohol
C2H5OH Ethanol Grain alcohol
C5H11OH Pentanol Amyl alcohol
C16H33OH Hexadecan-1-ol Cetyl alcohol
Polyhydric alcohols (đa chức)
C2H4(OH)2 Ethane-1 ,2-diol Ethylene glycol
C3H5(OH)3 Propane-1 ,2,3-triol Glycerol
C4H6(OH)4 Butane-1 ,2,3,4-tetraol Erythritol
C5H7(OH)5 Pentane-1 ,2,3,4,5-pentol Xylitol
C6H8(OH)6 Hexane-1 ,2,3,4,5,6-hexol MannitolSorbitol
C7H9(OH)7 Heptane-1 ,2,3,4,5,6,7-heptol Volemitol
Unsaturated aliphatic alcohols
C3H5OH Prop-2-ene-1-ol Allyl alcohol
C10H17OH 3,7-Dimethylocta-2,6-dien-1-ol Geraniol
C3H3OH Prop-2-in-1-ol Propargyl alcohol
Alicyclic alcohols
C6H6(OH)6 Cyclohexane-1 ,2,3,4,5,6-geksol Inositol
C10H19OH 2 – (2-propyl)-5-methyl-cyclohexane-1-ol Menthol

Nho

0

Nho là một từ để chỉ loại quả mọc trên các cây dạng dây leo thân gỗ hoặc để chỉ chính các loài cây này. Các loài cây này thuộc về họVitaceae. Quả nho mọc thành chùm từ 6 đến 300 quả, chúng có màu đen, lam, vàng, lục, đỏ-tía hay trắng. Khi chín, quả nho có thể ăn tươi hoặc được sấy khô để làm nho khô, cũng như được dùng để sản xuất các loại rượu vangthạch nho, nước quả, dầu hạt nho. Trongtiếng Trung, nó được gọi là葡萄 (bồ đào) và khi người ta nói đến rượu bồ đào tức là rượu sản xuất từ quả nho.
Tuy nhiên, các loài nho dại lại bị coi là một loại cỏ dại gây nhiều phiền toái, do chúng che phủ các loài thực vật khác với tốc độ tăng trưởng rất nhanh của mình.
Nho bị ấu trùng của một số loài côn trùng thuộc bộ Lepidoptera phá hại
Diện tích trồng
Theo số liệu của FAO, 75.866 km² trên thế giới được dùng để trồng nho. Khoảng 71% sản lượng nho được dùng sản xuất rượu vang, 27% để ăn dưới dạng quả tươi và 2% làm nho khô.
[​IMG]
Cánh đồng nho
Danh sách dưới đây liệt kê 11 quốc gia sản xuất rượu vang nho hàng đầu thế giới với diện tích trồng nho tương ứng cho việc sản xuất rượu vang:

Nguồn: FAO, Organisation Internationale de la Vigne et du Vin (pdf)Australian Wine and Brandy Corporation.
Rượu vang đỏ
Các nhà nghiên cứu, chẳng hạn như Marty Mayo, đã so sánh khẩu phần dinh dưỡng ở các quốc gia phương Tây và đã phát hiện ra rằng mặc dù người Pháp có xu hướng ăn nhiều chất béo động vật hơn, nhưng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ở người Pháp lại khá thấp. Họ gọi hiện tượng này là nghịch lý‎ Pháp. Nhiều người cho rằng nguyên nhân là người Pháp tiêu thụ nhiều rượu vang đỏ hơn. Các chất có trong quả nho đã làm nồng độ cholesterol trong cơ thể thấp hơn và vì thế làm chậm lại quá trình tích lũy trong động mạch. Các hợp chất như resveratrol (chất chống ôxi hóa polyphenol) đã được tìm thấy có trong nho và chúng có liên quan đến việc phòng chống ung thư, các bệnh tim mạch, làm suy hóa các bệnh liên quan đến thần kinh và các bệnh tật khác. Các bác sĩ không khuyến cáo dùng nhiều rượu vang đỏ, nhưng việc sử dụng từ 3-4 cốc trong một tuần là có lợi cho sức khỏe và được khuyến khích [cần dẫn nguồn].
Mặc dù nhiều người nhận thức một cách sai lầm rằng các loại nho đỏ là có lợi hơn cho sức khỏe, trên thực tế tất cả các loại nho có màu khác cũng đem lại các lợi ích đáng kể. Tuy nhiên, rượu vang đỏ đem lại một số lợi ích cho sức khỏe mà không thấy có ở rượu vang trắng, do nhiều chất có lợi cho sức khỏe được tìm thấy ở lớp vỏ quả nho, mà chỉ có vang đỏ mới được lên men bằng cả vỏ quả.
Một nhận thức sai lầm khác là người ta cho rằng rượu vang trắng được sản xuất từ các giống nho có vỏ màu xanh. Trên thực tế, nó có thể được sản xuất từ bất kỳ giống nho nào. Vang đỏ được sản xuất từ các giống nho vỏ đỏ, nhưng sự tạo màu là kết quả của việc thêm cả vỏ vào trong quá trình ngâm ủ (lên men).

  • [​IMG] Một chùm nho
  • [​IMG] Giống nho Autumn Royal
  • [​IMG] Nho vỏ đỏ và nho vỏ xanh
  • [​IMG] Nho vỏ đỏ
  • [​IMG] Nho vỏ đỏ không hạt
  • [​IMG] Lá giống nho Concord
  • [​IMG] Nho xanh (non)
  • [​IMG] Giống nho Pinot Noir
  • [​IMG] Vườn nho ở thung lũng Guadalupe, Ensenada, Baja California, Mexico / Viñedos del Valle de Guadalupe, Ensenada, Baja California, México
  • [​IMG] Vườn nho ở thung lũng Guadalupe, Ensenada, Baja California, Mexico / Viñedos del Valle de Guadalupe, Ensenada, Baja California, México
  • [​IMG] Cây nho trồng ở bang Geneva, Thụy Sỹ.
  • [​IMG] Một chùm nho (Vitis vinifera).

Các loại nho khô
Nho khô là bất kỳ loại quả nho được làm khô nào. Nho khô Zante (currant) hay còn gọi là nho Hy Lạp, là nho khô của vùngZakynthos, tên gọi này là sự sửa đổi sai lạc của từ trong tiếng Pháp raisin de Corinthe (nho Corinth). Nho sultana (nho xuntan) nguyên thủy là nho khô sản xuất từ một giống nho không hạt có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng hiện nay nó được dùng để chỉ bất kỳ thứ nho khô nào được xử lý‎ bằng hóa chất để giống như nho sultana truyền thống.
Chất chiết từ hạt nho
Hạt nho có chứa các procyanidolic oligomer, viết tắt là PCO. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận là các PCO củng cố các mạch máu và cải thiện sự lưu thông máu. Các chất chiết từ hạt nho có thể giúp chống lão hóa, giảm các bệnh tim mạch, cản trở các tế bào ung thư, giảm bớt các triệu chứng dị ứng và trạng thái căng thẳng của mắt cũng như giúp phòng chống một số bệnh da liễu. Trong các nghiên cứu gần đây, các chất chiết từ hạt nho cũng có chức năng giảm bớt xellulit (một chứng bệnh do mỡ lồi ra hạ bì, tạo thành các vệt lồi lõm trên da) và hạ thấp mức cholesterol và huyết áp. Các chất chiết từ hạt nho có ở ba dạng sau: lỏng, viên nén và viên nang.
Nho không hạt
Nho không hạt là một đặc điểm được đánh giá cao khi đem dùng ở dạng quả tươi và các giống không hạt hiện nay đã chiếm một tỷ lệ áp đảo trong số các giống nho trồng để ăn quả tươi. Do việc trồng nho có thể bằng các cành giâm, cho nên việc không có hạt không tạo ra vấn đề cho việc tái sinh sản nho. Tuy nhiên, nó là vấn đề cho những người nhân giống, họ hoặc phải sử dụng các giống có hạt làm cây mẹ hoặc lấy ra các phôi mầm từ sớm trong quá trình phát triển bằng các kỹ thuật nuôi cấy mô.

Vodka

0

Lịch sử
Vodka nguyên là thứ rượu có nguồn gốc từ một số nước Đông Âu nhất là NgaBa Lan và Litva. Nó cũng có truyền thống lâu đời ở Bắc Âu. Các khu vực này thường được gọi là vùng Vodka (Vodka Belt) không chỉ vì Vodka có nguồn gốc ở đây mà còn vì đây là nơi sản xuất và tiêu thụ vodka nhiều nhất thế giới. Ở Nga có hẳn một bảo tàng về vodka.
Theo truyền thống, vodka thường được uống xuông, nhất là Đông Âu và Bắc Âu. Song ở nhiều nơi khác trên thế giới, nó có thể được thưởng thức dưới hình thức cocktail, làm rượu thuốc, v.v…
Tên gọi vodka còn thường được dùng để chỉ một số loại rượu khác có những đặc điểm chung với voda về hình thức và cách sản xuất. Vodka tiếng Nga là Водка, bắt nguồn từ Вода nghĩa là “nước nhỏ”.
Rượu shōchū của Nhật Bản thường được gọi không chính thức là “vodka Nhật”. Rượu baijiu của Trung Quốc thường được gọi không chính thức là “vodka Tàu”.
Danh sách một số loại vodka
Thương hiệu Xuất xứ Nguyên liệu chính
Vodka Soof Tây Ban Nha 
Bombora Vodka Úc Nho
Cooranbong Vodka Úc 
Downunder Vodka Úc 
Monopolowa Austria 
Kryshtal Etalon Belarus 
Tovaritch! Vodka / Grain Nga 
Minskaya Kristall Belarus 
Iceberg Vodka Canada 
Kamouraska Canada 
Pearl Vodka Canada Wheat
Alberta Pure Vodka Canada 
Danzka Đan Mạch 
Frïs Vodka Đan Mạch 
Kihnu Mark Estonia 
Türi Estonia Rye
Viru Valge Vodka Estonia 
Finlandia Finland Barley
Koskenkorva Finland 
Tapio Finland 
Status Vodka Ukraina Ngũ cốc
lọc qua Mật ong, sâm…
Cîroc Pháp Nho
Grey Goose Pháp Blend – wheat, rye, barley
Jean-Marc XO Vodka Pháp 
Perfect 1864 Pháp 
Gorbatschow Vodka Đức 
Magic Spirits Đức 
Puschkin vodka Đức 
Rachmaninoff Đức 
Zaranoff Đức 
Reyka Iceland 
Romanov India 
White Mischief India 
Boru Ireland 
Vodka Perfect Israel 
Artic Italy 
Keglevich Italy 
Snow Queen Vodka Kazakhstan 
Sobieski Litva 
Starka Litva 
Stumbras Litva 
Vodka Oso Negro Mexico 
Vodka Villa Lobos Mexico 
Exclusiv Vodca Moldova 
Bols Vodka Hà Lan 
Hooghoudt Vodka Hà Lan 
Ketel One vodka Hà Lan Wheat
Van Gogh Vodka Hà Lan 
Vox Hà Lan Wheat
42 BELOW New Zealand 
Vikingfjord Norway 
1906 Ba Lan 
Batory Ba Lan 
Belvedere Ba Lan Rye
Biała Dama Ba Lan 
Chopin Ba Lan Potato
Gdańska Ba Lan 
Krakus Ba Lan 
Łańcut Ba Lan 
Luksusowa Ba Lan Potato
Pan Tadeusz Ba Lan 
Polonaise Ba Lan 
Siwucha vodka Ba Lan 
Sobieski Ba Lan 
Wyborowa Ba Lan Rye
Żołądkowa gorzka Ba Lan 
Żubrówka Ba Lan 
Żytnia Ba Lan 
Belenkaya Nga 
Dovgan (Довгань) Nga 
Flagman Nga 
Gold Symphony Vodka
(Золотая симфония)
(«Главвино»
(Группа компаний
«Алконост»)) Nga 
Kubanskaya
(Кубанская) Nga 
Moskovskaya vodka
(Московская) Nga 
Nemiroff Nga 
Pyatizvyozdnaya
(Пятизвёздная) Nga 
Rodnik (Родник) Nga 
Nga Standard
(Русский стандарт) Nga 
Smirnoff Nga 
Starka Nga 
Stolichnaya
(Столичная) Nga Wheat
SV The Silk Vodka Nga 
Vodkas Veresk Nga 
Absolut Vodka Thuỵ Điển Wheat
Explorer Vodka Thuỵ Điển 
Karlsson’s vodka Thuỵ Điển 
Level Vodka Thuỵ Điển 
Renat Thuỵ Điển 
Svedka Thuỵ Điển 
Znaps Vodka Thuỵ Điển 
Xellent Swiss Vodka Switzerland 
Lokka Vodka Turkey 
Helsinki Vodka Ukraina 
Hetman Ukraina 
Khortytsia Vodka (Хортиця) Ukraina 
Horilka (Горілка) Ukraina 
Nemiroff (Немиров) Ukraina 
Pertsivka Ukraina 
Slava Ukraina 
Blavod Anh 
Brecon Anh 
Isensua Anh 
Smirnoff Anh 
Glenn’s Anh 
Smirnoff Anh 
Sputnik Anh 
Ursus Anh 
Vladivar Vodka Anh 
3 Vodka Hoa Kỳ Soy
Blavod Hoa Kỳ 
Blue Ice Hoa Kỳ Potato
Bowman’s Vodka Hoa Kỳ 
Cirrus Vodka Hoa Kỳ 
Lotus Vodka Hoa Kỳ 
Popov vodka Hoa Kỳ 
Rain Vodka Hoa Kỳ 
Seagram’s vodka Hoa Kỳ 
Shakers vodka Hoa Kỳ 
SKYY vodka Hoa Kỳ 
Square One Organic Vodka Hoa Kỳ 
Taaka Hoa Kỳ 
Tito’s Handmade Vodka Hoa Kỳ 
UV Vodka Hoa Kỳ 
Vladimir Vodka Hoa Kỳ 
Vodka 14 Hoa Kỳ 
Zodiac Vodka Hoa Kỳ
Zelka Vodka Việt Nam
Vodka Stroka Việt Nam
F1 Pure Rice Vodka Việt Nam Rice
Vodka Cửu Long Việt Nam 
Men’ vodka Việt Nam Rice
3ZOKA vodka Việt Nam 
Vodka SAY Việt Nam 
Vodka Hà Nội Việt Nam
Vodka WIN Việt Nam Rice
Vodka BK Việt Nam Glutinous Rice
Gallery

  • [​IMG]
    Stolichnaya (“Capital”), Vodka Nga
  • Wodka Moskovskaya Flasche.jpg
    Vodka Moskovskaya, nhập vào Đức từ Nga
  • [​IMG]
    Vodka Evolution, Ba Lan
  • STATUS VODKA “Đẳng cấp” từ Ukraina
  • [​IMG]
    Absolut, Thụy Điển
  • [​IMG]
    Vodka đầu tiên của Ba Lan “Monopolowa” ,1782 của Jan Baczewski
  • [​IMG]
    Vodka hoa quả Finlandia, Phần Lan
  • Vodka Gorbatschow, Đức
  • Vor (“Thief”), Russia